jetstar đang khuyến mãi vé tết, bấm vào đây jetstar

Monday, July 26, 2010

Huế một lần trở lại

Huế xưa hay hồn Huế mới xưa?
Tôi vẫn muốn trở về dòng sông ấy
Xanh trong sắc mây dưới trời phượng cháy
Đường lá bay áo trắng vẫn đi về.

Mưa đổ muôn chiều bên góc quán cà phê
Nhớ đôi tay ai bấm từng phím nhạc
Nhớ Thuận An chiều biển reo như hát
Nhớ bạn bè ngồi đếm những vì sao

Nhớ điệu hò xưa vang khúc ly tao
Dòng nước lạnh soi mắt huyền sóng sánh
Nghe khắc khoải hồn xưa đồi Vọng Cảnh
Chiều Tịnh Tâm mênh mang trong cánh sen.

Huế vẫn bình yên với nẻo đường quen
Hàng long não tươi xanh ngày gió lộng
Câu nhắn xưa vẫn còn trong hoài vọng
“Giữ một chút gì rất Huế, nghe em…”

Thế là tôi lại trở về Huế xưa – nơi cũng có dăm ba chuyến thăm nhà kể từ cái lần xa hẳn của 10 năm về trước. Sài Gòn mưa lớn lắm, xối xả như níu bước chân đi, khiến tôi chần chừ đi ra đi vào xem chừng thời tiết mà suýt trễ chuyến bay. Nhưng qua vài thành phố thì trên không trung bắt đầu hiện ra nắng vàng và mây trắng. Máy bay hạ cánh lúc 6 giờ 5 phút, tôi đi xe mặt đất về thành phố trong ráng chiều của buổi hoàng hôn. Anh lái trẻ khá đẹp trai cũng nhiệt tình và vui tính, ân cần dành cho mẹ con tôi chỗ ngồi đẹp nhất và khuân giúp hành lý khi xe dừng trước cửa nhà.

Thời tiết của Huế mát dịu. Đêm đứng ở ban công nhìn ra ngọn đèn vàng rất sáng len qua từng vòm lá mà lòng dội lên một cảm giác thân quen. Cây vú sữa trồng trước sân nhà tôi đang mùa ra trái. Tôi nhớ ngày xưa nhà tôi có mảnh vườn rộng, trồng nào rau, nào xoài, nào ổi, nào khế… Chốn xưa vẫn đó nhưng mảnh vườn đã mất khi căn nhà được đập đi xây lại, cũng không còn giàn thiên lý leo quanh cổng với những chùm hoa xanh dìu dịu, và con đường trước nhà cũng mở rộng gấp đôi khiến tôi không thấy hàng long não ngày xưa. Nhà tôi, bây giờ nằm lọt thỏm giữa khu khách sạn và cho thuê văn phòng, có lẽ là một trong những căn nhà rất hiếm hoi dùng để ở chứ không phải kinh doanh.
Tôi sẽ làm một “phóng sự” nho nhỏ cho 5 ngày ăn chơi ở Huế như một chút gì để nhớ, để thương, để lưu lại hình ảnh của một thành phố đã từng gắn với bao kỷ niệm khó quên trong đời. Giây phút chia xa thấy lòng xao động một nỗi niềm khó tả như câu thơ của Thu Bồn:

“Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hóa đá phía bên kia.”

1. Về Huế, ghé thăm nàng công chúa

Công chúa Huyền Trân có một vị trí rất đặc biệt trong lòng người dân xứ Huế, có thể nói là một niềm tri ân, bởi nhờ có nàng mà nước Việt mới có vùng non nước Hương Bình thơ mộng ngày nay. Người Huế có khúc dân ca Nước non ngàn dặm theo điệu Nam Bình nói về người con gái sắc nước hương trời chấp nhận cảnh sống biệt ly để đem về cho nước Đại Việt châu Ô, châu Lý có dòng sông được gọi là Hương Giang quốc gia chi bảo: “Nước non ngàn dặm ra đi... Mối tình chi! Mượn màu son phấn, đền nợ Ô, Ly. Xót thay vì, đương độ xuân thì, số lao đao hay là nợ duyên gì? Má hồng da tuyết, cũng như liều hoa tàn trăng khuyết, vàng lộn theo chì. Khúc ly ca, sao còn mường tượng nghe gì. Thấy chim lồng nhạn bay đi...”

Xót thương cho người con gái rơi vào cảnh: “ngoảnh lui cố quốc, ngập ngừng gót ngọc; mây phủ kín trời thương, ngơ ngẩn bâng khuâng” nên người Huế không chỉ đặt tên đường “Huyền Trân công chúa” mà còn dựng điện thờ nàng.

Điện thờ Huyền Trân cách khu trung tâm khoảng 6km, nằm dưới chân nước Ngũ Phong. Theo cảm nhận của riêng tôi thì điện không đẹp lắm, nhưng đến đây, tâm hồn thật thư thái vì cảnh núi đồi thoáng đãng đầy bóng thông xanh vi vút gió ngàn. Chính điện và tượng công chúa nằm lọt thỏm giữa đồi thông ấy, xung quanh là cảnh lá hoa. Một bức tượng Phật Di Lặc khá to nằm trước lối đi lên tháp chuông Hòa Bình ở đỉnh núi Ngũ Phong.

Chúng tôi trèo mấy trăm bậc đá để đánh chuông và nhìn về thành phố. Người trèo lên đồi khỏe nhất, nhanh nhất hóa ra lại là cô con gái 5 tuổi của tôi. Chuông Hòa Bình là một quả chuông đồng nguyên chất, cao hơn 2m và nặng 1,6 tấn. Đã lên đến đây thì dù mệt cũng phải đánh một phát chuông, coi như góp một lời nguyện cầu hòa bình và hạnh phúc cho nhân loại. Tiếng chuông trong, ngân dài và vang xa. Nghe nói hòa thượng Takaoka Shucho trụ trì chùa Nagoya sau khi nghe tiếng chuông đồng này đã tìm đến nghệ nhân Nguyễn Văn Sính đặt một quả chuông như thế mang về nước Nhật.

Thú vị nhất có lẽ là lúc đánh chuông xong và đứng trên đỉnh núi nhìn xuống toàn cảnh xung quanh: mây trời bát ngát, rừng núi mênh mông, những dãy phố nằm dài lặng lẽ và gió lồng lộng thổi, thấy trong lòng ngập một cảm giác thanh bình.


PhotobucketPhotobucket
Điện thờ ở chân đồi và tháp chuông Hòa Bình ở đỉnh đồi. Từ đây nhìn xuống thành phố rất đẹp

Photobucket
Tượng phật Di Lặc trong khuôn viên điện thờ

…và những đồi thông

Huế nhiều đồi thông lắm, đi giữa rừng thông hầu như không bao giờ có nắng, và nghe nồng nồng mùi nhựa, những quả thông khô rải đầy dưới chân. Điện thờ Huyền Trân công chúa cũng nằm giữa đồi thông như thế. Tôi cũng nhớ những đồi thông Từ Hiếu, Thiên An… mà thời cấp II vẫn đi cắm trại, nhớ nhất là Thiên An với rừng thông xanh mát soi bóng xuống hai hồ Thủy Tiên trong vắt – nơi tôi đến lần đầu năm 10 tuổi với tập thể lớp 5/1 của thầy Duy, đi bộ trên con đường dài 6km.

Photobucket

2. Suối nước nóng

Dòng suối khoáng này có một cái tên rất dễ thương: “Thanh Tân”. Phải chăng nó mang hàm ý rằng những ai hay tắm suối đều giữ được tuổi xuân và sức khỏe? Cái thời tôi đi cách đây gần 10 năm thì dòng suối còn hoang sơ lắm, chỉ được xây kè đá và ngăn thành từng khúc có nhiệt độ khác nhau (lên đến điểm nóng nhất của dòng suối thấy hơi bốc lên nghi ngút và có thể luộc trứng được). Bây giờ thì khu vực này đã được quy hoạch lại thành một điểm giải trí. Hoa lá được trồng nhiều hơn, quang cảnh đẹp hơn, thêm nhiều hồ tắm được xây dựng như hồ nước nóng, hồ tạo mưa, hồ trượt, hồ massage, hồ sóng biển… Tôi vẫn thích tắm ở dòng suối bao quanh các hồ, dưới những tán lá xanh và cảnh núi rừng phía sau. Không chỉ có suối nước nóng, đi vào sâu hơn một chút còn có dòng suối nước lạnh trong vắt nằm giữa núi rừng. Suối Thanh Tân là suối khoáng, nguồn nước vẫn được dùng làm nước khoáng Thanh Tân nên tắm xong thấy rất thư giãn và sảng khoái.

Photobucket

Photobucket

Photobucket

3. Dòng sông kỷ niệm

Tôi đã đi qua nhiều dòng sông, nhưng vẫn không thấy con sông nào thơ mộng và quyến rũ như dòng Hương xứ Huế. Một người bạn Pháp của tôi quả quyết rằng về bản chất tự nhiên thì sông Hương còn đẹp hơn sông Seine, và dòng sông này như một phụ nữ đẹp quyến rũ, bí ẩn và nguy hiểm, bởi nước sông trong xanh và êm đềm như không hề có sóng, nhưng thực tế thì đây là con sông sâu với rất nhiều vực thẳm.

Lại nhớ câu thơ của Thu Bồn:

“Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”

Photobucket
Khúc sông ven cồn Hến và Vỹ Dạ (ảnh chụp lúc đi thuyền trên sông Hương)

Có nhiều giai thoại về tên con sông này. Tục truyền rằng ngày xưa vua Trần gả Huyền Trân công chúa cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân để lấy hai châu Ô, Lý, khi thuyền đi ngang dòng sông này thì nàng thấy một mùi hương dìu dịu tỏa ra, bèn đặt tên là sông Hương. Sử sách lại cho rằng chúa Nguyễn Hoàng đương lúc băn khoăn không biết nên xây chùa ở đâu thì đêm nằm mộng được một bà tiên bảo rằng hãy đốt hương đi dọc bờ sông, khi nào hương tắt thì dừng lại xây chùa. Chúa Nguyễn làm theo, sau đó đặt tên dòng sông này là sông Hương và ngôi chùa bên bờ sông là chùa Thiên Mụ (hay còn gọi là Linh Mụ). Xoay quanh cái tên của dòng sông này còn có nhiều giai thoại khác, tôi xin trích một đoạn trong bài Sông hoa của Lê Huỳnh Lâm: “Các cụ ngày xưa nói nước sông Hương pha trà thì rất thơm, ngon nên được gọi là sông Thơm, rồi một vài ý kiến lại nói nước trên dòng sông này toả ra một mùi hương dìu dặt của loài cỏ Thạch Xương Bồ mọc dọc ven bờ sông, kẽ đá phía thượng nguồn.” Còn trong bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết: “…tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hoá và lịch sử”.

Sông Hương đoạn nào cũng đẹp, từ chỗ thượng nguồn nơi có thể nhìn khúc sông uốn lượn từ đồi Vọng Cảnh, đến chỗ dòng nước chia hai ôm lấy cồn Hến và chảy ven vùng Vỹ Dạ xanh tươi trù phú. Nước sông Hương ngọt ngào tạo nên những vườn cây nổi tiếng của đất cố đô như Kim Long, Vỹ Dạ, cả những món ăn rất đặc trưng mà nơi khác làm khó sánh bằng vì thiếu loại hến ngon và loại bắp thơm ngọt của cồn Hến.

Với tôi, sông Hương là một dòng sông kỷ niệm. Đó là những ngày chủ nhật, vài ba đứa bạn kéo nhau qua Kim Long ăn bánh cuốn hay bún thịt nướng, ngắm vườn cây xanh mướt ven sông. Đó là những chuyến đi chơi thuyền Rồng ngược dòng lên chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén và lăng Minh Mạng rồi thuyền tắt máy, để xuôi theo dòng nước tự trôi về trong làn gió đêm mát rượi và lấp lánh ánh trăng tan, thả những chiếc đèn lồng thắp nến và lặng lẽ chiêm ngưỡng hoa đăng lững lờ trôi trên mặt nước. Đó là những năm cấp III còn học trường Quốc Học, vào giờ chơi vẫn cùng bè bạn băng qua đường đi dạo ở bãi cỏ rộng và xanh trước bờ sông. Đường Lê Lợi rợp mát bóng cây, chạy dài từ ga tàu đến Đập Đá dọc theo sông Hương, băng qua nhiều trường học nên vẫn được du khách gọi bằng một cái tên trìu mến: “con đường áo trắng”.

Photobucket
Sông Hương và cầu Tràng Tiền

4. Kỳ ảo núi rừng Bạch Mã

Huyền thoại xưa kể rằng, Bạch Mã vốn là chốn bồng lai tiên cảnh. Ngày xưa ở nơi đây thường có các vị tiên ngồi đánh cờ. Ngựa của tiên mải đi ăn cỏ đồng xa, khi trở lại thì tiên đã bay về trời, ngựa lang thang đi tìm rồi hóa thành mây trắng. Cái tên Bạch Mã ra đời từ đó.

Tôi đi Bạch Mã vào một ngày đầu tháng 5. Đây là dịp khá lý tưởng để khám phá chốn núi non kỳ ảo này, vì dịp đó khí trời ấm áp, không mưa. Cùng với Sa Pa và Đà Lạt, Bạch Mã là một trong những vùng hiếm hoi có khí hậu ôn đới ở Việt Nam. Nhưng nếu như ở Sa Pa và Đà Lạt chỉ có vẻ đẹp hoa cỏ, núi đồi thì Bạch Mã là nơi tổng hòa vẻ đẹp thiên nhiên: mây, núi, biển, hồ… Chẳng thế mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khi viết một thiên bút ký tuyệt vời về Bạch Mã đã gọi đây là “ngọn núi ảo ảnh”.

Núi Bạch Mã thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 40km, được xem là "vùng ôn đới giữa miền nhiệt đới", có vườn quốc gia với nhiều động thực vật quý hiếm và gần chục thác nước, các sườn núi luôn chìm trong mây. Bạch Mã càng lên cao càng lạnh, và mây trắng bay lững lờ xung quanh, sánh đặc như kem, tưởng có thể dùng muỗng mà xúc được. Ngay cả trong những ngày nắng nhẹ, Bạch Mã vẫn lẫn trong sương và mây trắng. Vào mùa lạnh, có thể mịt mù đến mức chỉ nghe tiếng mà không thấy người.

Bạch Mã chìm trong mây
Bạch Mã chìm trong mây

Trong rừng có rất nhiều khe suối, nước mát lạnh và trong vắt, có thể thấy từng viên sỏi và lá mục dưới đáy. Rừng yên tĩnh nhưng luôn có tiếng ve và chim hót – tiếng ve râm ran như gợi lại một hồi ức xa xưa. Tôi băng qua những dòng suối róc rách chảy, ngồi trên những thân cây bắc ngang và thò chân xuống nước, thấy dễ chịu vô cùng. Từ đỉnh Bạch Mã nhìn xuống biển và thung lũng rất đẹp. Tôi chợt hiểu vì sao người ta đặt tên biển là Chân Mây, bởi biển xanh dưới chân núi luôn chìm trong mây trắng. Hồ Truồi như một tấm gương lớn phẳng lặng lấp lánh ánh nắng.

Từ Hải Vọng Đài (Bạch  Mã) nhìn xuống biển hồ
Từ Hải Vọng Đài nhìn xuống, hôm ấy biển khuất trong mây nên khó thấy qua máy ảnh.

Để khám phá hết những địa danh chính của Bạch Mã như Hải Vọng Đài, Ngũ Hồ, rừng lan, thác Trượt, thác Đỗ Quyên, thác Trĩ Sao, thác Bạc, thác Mơ, thác Bạch Trì, thác Phướn... phải đi khoảng 2 ngày. Hải Vọng Đài là một cái đài quan sát trên đỉnh núi để nhìn xuống biển. Đứng ở đây quan sát cảnh thiên nhiên vừa nên thơ vừa hùng vĩ, đẹp như tranh thủy mặc, chợt thấy mình nhỏ bé làm sao. Ngũ Hồ là nơi có thác nước cùng năm chiếc hồ nhỏ quy tụ lại một điểm. Rừng lan là một dải rừng đủ loại hoa lan thường khoe sắc vào mùa xuân (dịp này trên Bạch Mã hoa anh đào cũng nở rất đẹp). Và thác – Bạch Mã nổi tiếng với gần chục thác nước mang những vẻ đẹp riêng: thác Bạc có những khối đá bàng bạc sáng rực dưới ánh nắng; thác Đỗ Quyên vừa mang vẻ kỳ vĩ với một thác nước lớn cao hơn 300m vừa có nét thơ mộng của hoa đỗ quyên đỏ nở rộ như thảm nhung ở hai bên vào mùa xuân; thác Trĩ Sao là nơi không chỉ có thác, có rừng mà còn rất nhiều chim trĩ đẹp vẫn thường ra chơi khi không gian yên tĩnh; thác Trượt là nơi được nhiều người tắm nhất... Thường chỉ có dân Tây là chịu khó đi bộ lâu như vậy để khám phá thiên nhiên, chứ tôi đi chưa đầy một ngày nên chỉ xem vài điểm thôi (nhưng băng rừng lội suối mệt cũng muốn đứt hơi), tay nghề chụp ảnh cũng chưa chuyên nghiệp nên không lấy được toàn cảnh mà chỉ một vài góc độ.



Một góc thác Bạc và thác Đỗ Quyên

Đỉnh thác Đỗ Quyên (nếu chụp được toàn cảnh từ chân thác lên đỉnh thác sẽ rất đẹp)

5. Phá Tam Giang - nơi đầu biển cuối sông

Một chiều lang thang trên phá
Bên em hương tóc thơm lừng
Mây trời dìu nhau qua núi
Ta dìu nhau qua bâng khuâng

Mênh mang mạn thuyền sóng vỗ
Cánh chim tung trời về đâu?
Bên tai thì thầm em hát
Gió mang lời về muôn sau.

Con còng lang thang góc biển
Cho đời khoảng vắng bình yên
Xin đừng biển Đông xe cát
Ru tình qua giấc cô miên.

Phá Tam Giang chiều ráng đỏ
Màu hoàng hôn buông chơi vơi
Liệu tình hôm nay tha thiết
Mai sau còn tựa vai người.

(Hoàng hôn trên phá Tam Giang - Mai Hữu Phước)

Bởi thuở xưa vẫn thường cùng bè bạn chạy xe về biển Thuận An qua đoạn đường có phá Tam Giang nên nơi đây còn vương vấn trong ký ức tôi nhiều lắm. Tôi không dám nói Thuận An là vùng biển đẹp, bởi thiếu cả nét duyên dáng lẫn thanh bình của Lăng Cô, nhưng dẫu sao nó gần, và đoạn đường đến biển đầy thơ mộng nên Thuận An vẫn là lựa chọn của nhiều người trong những dịp cuối tuần.

Trên con đường đi biển, phá Tam Giang mênh mông với những con sóng lăn tăn vỗ nhẹ hiện ra trong ánh nắng ban mai rất non - thứ nắng "thủy tinh" lẫn trong làn sương mờ buổi sớm khiến lòng thêm man mác. Chiều từ biển trở về, phá Tam Giang lại nhuộm ánh hoàng hôn thắm đỏ, sóng sánh như mật ong khiến lòng phiêu diêu.

Phá Tam Giang là một vùng nước lợ trù phú với diện tích hơn 50km2, thuộc hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng gần 250km2 trải dọc tỉnh Thừa Thiên Huế, không chỉ là vùng đầm phá tiêu biểu của Việt Nam mà còn là vùng đầm phá lớn nhất Đông Nam Á. Tam Giang có nghĩa là ba sông, tức là nơi ba con sông đổ vào (sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu) và tiếp giáp với biển. Do đặc điểm địa hình, khí hậu và môi trường nước lợ tự nhiên mà thủy hải sản nuôi ở đây rất ngon.

Tam Giang tuy là vùng đầm phá nhưng vẫn có sóng, bây giờ sóng khá hiền nhưng ngày xưa từng có những đợt sóng dữ vẫn được gọi là sóng thần nên có câu ca dao:

"Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang"

Tương truyền rằng, trước đây truông nhà Hồ là một vùng đất bạt ngàn hiểm trở vốn là sào huyệt của một băng cướp rất nguy hiểm, còn phá Tam Giang thì hay có "sóng thần". Quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng nổi tiếng thông minh, biết được nỗi lo sợ của dân chúng đã tìm cách dẹp yên. Một hôm ông cho xe chở lúa và hàng hóa qua truông, cài sẵn một người lính ngồi trong thùng xe chở lúa. Khi bị cướp, người lính ngồi trong thùng xe rải lúa ra dọc đường. Nhờ dấu lúa này mà ông đã lần ra sào huyệt của bọn cướp và cho quân bắt gọn. Dẹp xong cướp truông nhà Hồ, quan Nội tán lại tìm cách trị sóng thần phá Tam Giang. Một mặt ông sai người lặn xuống mở rộng cửa phá để trừ sóng dữ, mặt khác ông cho loan báo trong dân chúng là quan Nội tán sẽ cho quân dùng súng thần công bắn sóng thần trừ họa. Đến ngày đã định, Nguyễn Khoa Đăng đem súng chĩa ra phá, ra lệnh bắn ba phát lớn. Sau khi ba tiếng súng vang lên, khói bay mù mịt và một luồng nước đỏ như máu loang trên mặt phá. Nguyễn Khoa Đăng bảo với dân chúng là sóng thần đã bị trúng đạn chết, từ nay không phải lo sợ nữa. Thực ra thì người của ông đã bí mật lặn xuống và rải phẩm đỏ cho tan dần trong nước. Từ đó sóng thần không còn, thuyền bè qua lại trên phá Tam Giang đều bình an vô sự. Nỗi lo sợ về truông nhà Hồ, phá Tam Giang không còn nữa, nhưng câu hát xưa vẫn còn, nay được chắp thêm hai câu ghi nhớ công ơn của quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng:

"Phá Tam Giang ngày nay đã lặng
Truông Nhà Hồ nội tán dẹp yên"

Chiều qua phá Tam Giang, nghe hương muối mằn mặn tan trong gió biển và nhìn ráng hoàng hôn đỏ rực một góc trời, thấy lòng bình yên lắm. Trập trùng trên mặt phá là những dãy hàng rào lưới, phía xa là hàng phi lao xanh rì vi vút gió. Nếu có thời gian, bạn ngủ một đêm trên phá, theo ghe đi câu mực, đánh cá, bắt tôm, sau đó nướng ăn tại trận thì không còn gì tuyệt bằng. Hải sản Tam Giang, đặc biệt là tôm cá, vốn ngon nổi tiếng. Con tôm phá Tam Giang cũng làm nên nhiều đặc sản đi khắp bốn phương trời. Ở đây còn có thứ ghẹ tí hon chỉ bằng vài ngón tay nhưng ngon ngọt đến "lặng cả người".

Phá Tam Giang nhìn từ chùa Phước Sơn

6. Thành phố lăng

"Thành phố lăng" là cách gọi của báo chí, còn dân thường vẫn hay nói nôm na là “thành phố ma” hay "thành phố chết". Đây là khu nghĩa trang xa xỉ nhất nước với hàng ngàn ngôi mộ xây dựng công phu, giá bét thì vài trăm triệu, cao thì cả tỉ, có cái xây đến 2,5 năm mới xong. Báo chí viết nhiều về nơi này vì sự lãng phí đua đòi nhưng nó vẫn thu hút nhiều người hiếu kỳ đến xem (trong đó có tôi ). Nói là mộ, nhưng thực chất mỗi ngôi mộ là một dạng "cung điện nhỏ" với diện tích khoảng bằng một căn biệt thự, được chạm trổ rất tinh xảo và đúc kiên cố bằng móng đá. Mỗi cột, vách... đều là những bức bích họa ghép bằng gốm sứ. Nhiều khách nước ngoài bị lạc vào đây còn tưởng nhầm là mình đang ở trong quần thể di tích vua chúa nhà Nguyễn, mãi đến khi nhìn ngày trên bia mộ mới biết là không phải. Nơi đây vẫn đang được xây dựng hàng ngày, và chính mắt tôi nhìn thấy những bình gốm sứ nguyên vẹn được mua về đập ra để khảm.

Photobucket
Hàng nghìn ngôi mộ trập trùng hai bên con đường đi vào khu nghĩa trang "thành phố lăng"

Photobucket
Lăng mộ được xây dựng rất công phu và hoành tráng

7. Thuận An biển gọi

Không lần nào thăm Huế mà tôi lại không về biển chơi, kể cả mùa đông lạnh. Lăng Cô đẹp nhưng xa lắm, vì thế tôi chỉ thường đi Thuận An – bãi biển cách khu trung tâm có hơn 10km. Chuyến đi biển vào buổi chiều trước ngày về sao mà sảng khoái và làm sống lại bao kỷ niệm tuổi thơ.

Thuận An, hai tiếng ấy đầy yêu thương lắm bởi đó là nơi in dấu chân của "khi xưa ta bé" theo cha mẹ đi tắm biển vào những ngày hè rực rỡ, nơi cùng bạn bè dựng trại 26-3 và đốt lửa vui chơi tưng bừng thuở mười bảy, mười tám… Tập thể lớp A khóa 1991 – 1994 Quốc Học ngày ấy luôn “khét tiếng” vì những trò nghịch ngợm, nhưng học hành cũng rất “ngon lành cành đào”, hầu như không có chỗ ăn chơi nào của Huế mà không ghé qua. Vẫn con đường dài ngày xưa chạy thẳng về biển, hai bên là dòng kênh xanh, vườn cây, đồng lúa, rồi phá Tam Giang… Trời chớm hè lộng gió thoảng theo hương biển mặn nồng. Rừng phi lao xanh vẫn reo vi vút cùng tiếng sóng bên bờ cát trắng, thấy nhớ làm sao những buổi chiều tà thấp thoáng trăng non, sóng biển reo như tiếng hát, bạn bè ngồi chơi chán lại quay xe trở về.

Ôi những ngày tháng đẹp! Lại nhớ mùa hè năm 22 tuổi, bốn đứa bạn từ bốn khoa khác nhau trong trường nhưng thực tập cùng một chỗ, đã làm một cuộc chia tay bên bờ biển để bây giờ mỗi đứa một phương trời. Và nhớ anh xã, năm nọ còn là người yêu đã từ Bắc mò vào Huế chơi khi mình về nhà nghỉ Tết, 5 giờ sáng mồng bốn Tết đột ngột xuất hiện trước cổng nhà, để rồi chở "em yêu" về biển chơi trong gió buốt, chỉ đứng bên bờ nghe tiếng sóng sôi sùng sục dưới nền trời xám.

Photobucket

Photobucket

PhotobucketPhotobucket

Và cuối cùng là một chút lãng mạn của tôi dành cho Huế:

Huế xưa hay hồn Huế mới xưa?
Tôi vẫn muốn trở về dòng sông ấy
Xanh trong sắc mây dưới trời phượng cháy
Đường lá bay áo trắng vẫn đi về.

Mưa đổ muôn chiều bên góc quán cà phê
Nhớ đôi tay ai bấm từng phím nhạc
Nhớ Thuận An chiều biển reo như hát
Nhớ bạn bè ngồi đếm những vì sao

Nhớ điệu hò xưa vang khúc ly tao
Dòng nước lạnh soi mắt huyền sóng sánh
Nghe khắc khoải hồn xưa đồi Vọng Cảnh
Chiều Tịnh Tâm mênh mang trong cánh sen.

Huế vẫn bình yên với nẻo đường quen
Hàng long não tươi xanh ngày gió lộng
Câu nhắn xưa vẫn còn trong hoài vọng
“Giữ một chút gì rất Huế, nghe em…”

Photobucket

Huế, 5-2008

Friday, April 23, 2010

Mùa Hoa Cải



















"Có một mùa hoa cải,
Nở vàng bên bến sông
Em đang thì con gái
Đợi anh chưa lấy chồng
Có một mùa hoa cải
Nắng vàng trong mê mải
Cầm tay em bối rối
Anh nói rồi chia phôi
Chiến tranh không ước hẹn
Sợ làm con bướm trắng
bay dạt chiều ven sông..."

Mùa về khi những cơn gió đầu đông se se lạnh, cũng là lúc những bông cải trổ hoa vàng rực một khoảng trời mênh mang... Gió đưa thoang thoảng đâu đây nồng nàn mùi hoa cải, cái hương vị đặc trưng đó của hoa cải cứ ngập ngừng... ngập ngừng trong mỗi bước chân qua để rồi mỗi lúc đi xa lại nhớ hoài cái mùi hương hăng hắc rất bịnh dị ấy nơi quê nhà.

Giữa một cánh đồng cải vàng ta như lạc giữa chốn thần tiên với bao mơ ước thầm kín của một thời con gái ngây ngô lần đầu tiên biết vu vơ trước một ánh mắt thiết tha. Giữa mênh mông là hoa, ta cảm thấy mình thật giàu có như một nàng công chúa trong vương quốc của màu vàng thân thương.

Khi những cơn gió lạnh tràn về, trên cánh đồng lại sáng bừng một màu vàng rực rỡ đam mê. Những cánh hoa khoe mình trong cái tiết trời khắc nghiệt ấy để mang lại cho đời một vẻ đẹp thầm lặng chốn đồng quê mà vấn vương trên từng nẻo đường ta đi.

Ai đã từng một lần ngồi ngắm những cánh hoa, hẳn sẽ còn nhớ mãi trong sâu thẳm cái hương nồng ngan ngát giữa bốn bề với màu vàng hoa cải nơi chốn đồng quê.

Có lẽ với tôi, hoa cải không chỉ đẹp trong những bức tranh mà nó còn hiện hữu phảng phất đâu đây với mùi hương rất lạ, hoa cải

Quê tôi vào mùa này, hoa cải đã vàng rực khắp cánh đồng trong mùi hương đặc biệt của hoa cải. Nhớ ngày ấy tôi theo chị ra đồng, nhìn những luống cải đang trổ bông vàng rực xen lẫn màu xanh của cây hành, tỏi. Tôi sững sờ nhìn nó say mê, háo hức vội bỏ cả dép chạy chân trần trên đất để với tay hái những bông hoa vàng rực rỡ ấy. Từng cánh, từng bông rơi phấn khắp mặt, đầu tóc đều dính phấn hoa khiến chị bật cười khi nhìn thấy tôi trong tay ôm nguyên một bó hoa cải vàng.

Dư âm bài hát hoa cải đợi hôm nay ngân vang trong dòng nhạc lại khiến tôi đắm mình trong màu hoa cải của những ngày xưa nơi quê nhà trong mỗi mùa hoa cải.

Ấn tượng với tôi về hoa cải, là lần đó dị ứng với phấn hoa nên về nhà bị nổi ban khắp người nhưng khoảnh khắc được giơ tay hái những bông hoa cải vẫn mãi mãi in đậm trong tôi môĩ lần nghĩ về hoa cải.

Sau bao lần về thăm lại quê , tôi cứ đưa mắt tìm kiếm cái màu vàng ấy trên cánh đồng xa xa, nhưng hình như nó chỉ còn là dĩ vãng. Phần vì hoa có giá trị kinh tế rất thấp nên, người dân ở đó đã không còn trồng cải nữa mà thay vào đó là một loại cây khác với thu nhập khá hơn. Nên giờ đây mỗi lần vè thăm quê , tôi như thấy thiếu đi một điều gì đó rất thân thuộc vào mùa này. Mùa hoa cải ngày xưa... !

Anh xa rồi xa mùa hoa cải ấy
Vẫn nở vàng bát ngát chốn làng quê
Anh xa rồi bỏ quên mất ước mơ
Giữa cải vàng hương nồng nàn rất tội

Để chiều nay ai thì thầm bối rối
Hoa nở rồi anh về lại không anh?

Trích blog - Nguyễn Hạnh Ngân

Wednesday, March 17, 2010

Diễm Xưa - Trịnh Công Sơn


Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế.
Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt...
Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường.
Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng, mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kỹ.
Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một dòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có một hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng cứu rỗi cho con người ta khỏi vành đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất như không có thực.
Nhưng thật sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm thiêu hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình. Đó cũng là thời gian mà mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyền đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa.
Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bổng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh.
Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoang lạc của giấc mơ.
Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi.
Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là "Diễm của những ngày xưa".

Lời bài hát Diễm Xưa:

"Mưa vẫn bay bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu
Mưa vẫn hay mưa trên hàng lá nhỏ
Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua
Trên bước chân em âm thầm lá đổ
Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa
Chiều nay còn mưa sao em không lại
Nhớ mãi trong cơn đau vùi
Làm sao có nhau hằn lên nỗi đau
Bước chân em xin về mau
Mưa vẫn hay mưa cho đời biến động
Làm sao em biết bia đá không đau
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau
Mưa vẫn hay mưa cho đời biến động
Làm sao em nhớ những vết chim di
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Để người phiêu lãng quên mình lãng du"

Friday, March 12, 2010

Thương khói lam chiều



Ngày nhỏ, tôi là một đứa con nít mê khói. Suốt một tuổi thơ ruộng đồng, khói phủ tràn ngập tâm hồn tôi, cay xè đến tận tâm can những sợi khói nhỏ ấp iu những buồn vui. Cứ sau vụ gặt, cánh đồng lúa vàng hôm nào trước ngõ nhà chỉ còn trơ gốc rạ. Nắng vài hôm, đám gốc rạ ấy khô lại, chúng tôi bứt rạ dồn thành từng đống nhỏ rồi đốt. Lửa rơm cháy phần phật, gặp gió phất lên cao một màu vàng rực.

Và khói, khói như mây nhỏ tỏa ra từng đụn nồng nàn mùi bùn đất phù sa, mùi phân chuồng, sương mai, và mùi nắng gió những ngày vắng mưa. Quanh đống gốc rạ cháy bỏng ấy, chúng tôi nhảy múa và ca hát những lời đồng dao đến khản cổ, mồ hồi, mồ kê ra đầm đìa áo quần. Khói hắt lên mặt, lên mắt mũi cay xót một niềm thích thú kỳ lạ. Có đứa nghịch còn lén cho ớt bột vào đám lửa, cả lũ ho sặc sụa, vấp ngã dúi dụi xuống chân ruộng ẩm ướt, còn đọng những vuông nước mưa nhỏ. Để cho đám cháy tỏa nhiều khói, cả bọn tỏa ra đi tìm những đám lúa lép, đổ dồn quanh đám lửa. Lúa lép gặp lửa già, nổ lép bép, tỏa một thứ khói un hương thơm mùi cơm cháy nấu bằng trả đất. Đốt rơm ngày lên đồng là một trò chơi thú vị nhất của tuổi thơ nghèo khó. Chúng tôi gần như tự do giữa một cánh đồng mênh mông, chỉ có trời xanh cao vời vợi, chỉ có nắng mênh mang và gió nồm thổi lồng lộng đến tận chân trời xa hút. Nếu bắt được cá hay lượm được trứng vịt đẻ sót trên ruộng, thì lấy lúa non đắp quanh rồi nướng vùi trong đám lửa đang cháy rần rật. Cá và trứng chín, đập bỏ phần bùn đã thành đất nung, bẻ chia nhau miệng đứa nào cũng đầy tro than đen nhẻm. Có nhớp nháp thì còn đó con sông làng bốn mùa nước xanh trong mát rượi. Chỉ cần nhảy ùm xuống bơi vài chục sải tay là người sạch làu làu.

Không gì đẹp bằng những buổi chiều mùa hè khi mặt trời chưa tắt, bóng khói lam chiều, tỏa ra từ những mái bếp tranh nghèo. Giữa bầu không gian tịch mịch, khói bếp như là hình ảnh sinh động, sự sống duy nhất làm cho tạo vật mờ ảo hơn. Ngọn khói mỏng có lúc leo lét như một ánh lửa nhỏ, bò dọc theo lưng mái tranh đẫm sương chiều, rồi gặp gió bung ra bãng lãng thành một vùng lớn lam nhẹ lơ lửng trên trời cao. Ký ức tuổi thơ tôi khó có thể quên hình ảnh đẹp như một bức họa ấy. Từ con đường nhỏ rợp bóng tre xanh, phóng tầm mắt về tận cuối làng chỉ thấy độc một màu khói lam chiều bãng lãng trên những mái tranh. Màu khói thiết tha nhung nhớ đến thắt lòng. Ký ức ngủ yên bỗng như con chim trời trỗi dậy giang đôi cánh rộng đập thảnh thốt vào giữa vùng nhớ ngày xưa. Nhờ gì như nhớ làng quê : cánh đồng, con đường nhỏ và một bầu trời quang đãng. Ở đó, trong bóng khói lam chiều tà có mẹ, qua tháng năm hao gầy vẫn bên trời một vóc hạc xương mai. Bóng mẹ nhạt nhòa trong ngọn khói lam chiều khiến lòng xót xa. Như thể bóng khói lam dịu buồn trong ký ức là hình ảnh mẹ trong một hiện thân của cõi vô thường. Sự tương cận của hình ảnh khói lam chiều và dáng mẹ, chợt cận nhân tình và bao trùm lên quê hương. Sợi khói nhỏ nhoi mà huyền hoặc ấy đã chuyển tải trọn vẹn một thông điệp sầu nặng của tâm hồn : dẫu đã từ giã tuổi thơ ruộng đồng, nhưng chưa một ngày tôi xa những sợi khói lam chiều, xa cõi ngày xưa với biết bao thương nhớ. Và quê nhà xa lắc bất chợt trở về mỏng manh một sợi khói nhỏ vướng vào mắt cay xè.

(Netcodo)

Miền cỏ thơm

Nhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị.

Những thảm cỏ được trồng trong các công viên và....

Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi cao; nhưng ở đây, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến cho người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại. Có lần vào cuối đông, tôi ngồi trong trại viết của Hội Nhà văn ở Quảng Bá và nhìn ra con đê sông Hồng xanh ngun ngút những cỏ kéo dài xuống những cánh đồng vùng Yên Phụ mịt mùng trong màu mưa bụi xám, tôi chợt nhớ đến một câu thơ của Nguyễn Trãi nói về nỗi tâm đắc với cỏ ở Hà Nội: "Hoa thường hay héo cỏ thương tươi". Tôi nghiệm ra rằng cái thế thích chí nhất của cỏ chính là những triền đê. Ở đó, cỏ nghiễm nhiên thay thế vai trò của mọi loài hoa trên trái đất. Có lẽ ngày xưa trong một chức quan rỗi việc, Nguyễn Trãi đã có nhiều lần buông lỏng cương ngựa đi dọc triền đê này để ngắm vẻ đẹp của cỏ. Nhưng đã có mấy ai được ngắm thoả thích mày xanh tươi của cỏ dọc thân đê giớng như tôi trong buổi sáng mùa xuân ấy. Vả lại Hà Nội vẫn là những mái phố dài trải ra dưới những cây cao (như cây sấu) với những khách bộ hành đi trên vỉa hè. Nghĩa là còn lại Huế là một cố đô mang linh hồn của cỏ.

Mùa xuân có thể định nghĩa là mùa xuân mà toàn bộ cây nở thành hoa. Những ngọn đồi phía tây nam Huế bừng lên trong hương hoa cỏ, khiến người ta không thể ngồi yên cúi mặt lên trang sách. Hương cỏ tràn vào thành phố, như gần như xa, khiến tôi nghĩ rằng ở đâu đấy trên những sườn đồi, cánh cửa của vườn Địa Đàng đang mở ra, hoặc những nàng tiên đang múa hát dưới gốc cây đào nở hoa, với mùi hương bát ngát như thể mùi tóc bay trong những chiều gió. Cỏ mọc ven những con đường trong thành phố, trên đó lưa thưa những chòm cây dại, như cây hoa ngũ sắc cười sặc sỡ dọc đường thơ ấu của tôi. Bay theo những bước chân lang thang của tôi là những con bướm, những cánh chuồn nghe ngày nắng lên tung tăng trong không gian, ghé cây này, vờn cây kia, trong một thành phố lúc nào cũng cổ xưa, văng vẳng điệu nhạc của cung đình đã hoang phế. Đã nhiều năm, tôi chợt nhận ra rằng lũ chuồn chuồn, bươm bướm của tôi đã rời thành phố này mà đi đâu biệt tăm, chắc là chúng đã đi tìm một không gian yên tĩnh hơn, ít bị tiếng động làm choáng đầu hơn. Một hôm nhân có việc đi ra ngoại ô vào ban đêm, tôi gặp những đàn đom đóm mịt mù như một đám bụi sao bay trôi qua những khu vườn tối thẳm. Tôi lại nhớ ra rằng đã từ lâu, ở Huế người ta không còn thấy bóng con đom đóm, không còn thấy bóng những bầy trẻ con đang đuổi theo vầng bụi lửa đom đóm để cố bắt lấy "hạt ngọc nhà trời". Và chính ra những cánh bướm, cánh chuồn chuồn thân mến của tôi đã rời bỏ những bụi cây hoang dại ven đường mà đi về nơi khu vườn địa đàng của chúng, trên những đồi cỏ kia, để lại tôi đứng một mình làm thằng bé lang thang cơ nhỡ thế này. Ôi! Tôi muốn làm Liệt Tử cưỡi gió mà đi khắp nơi trên thành phố kinh xưa của tôi, thành phố nằm phơi mình giữa non xanh nước biếc, toả rộng linh hồn vô ưu thênh thênh trong hương cỏ.

Mùa xuân về, mặt đất công viên sáng bừng lên bởi ngàn vạn bông cỏ tím, mỗi bông cỏ lại ngậm trong lòng một hạt sương mai khiến vào buổi sáng sớm, cỏ ở ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc. Những cô sinh nữ từng rủ nhau ra đấy ngồi chơi trên vạt cỏ; lâu ngày tâm hồn họ trở nên dè chừng với những cuộc vui trong đời, và dưới mắt họ, những trò quyến rũ đối với thế nhân tự nhiên nhuốm chút màu ảm đạm của cái mà bà Huyện Thanh Quan khi xưa gọi là "hý trường".

Mùa xuân, tự nhiên tôi muốn gác hết mọi việc bận rộn để lên rong chơi chơi trên những đồi cỏ gần vùng mộ Vua. Ở đó tôi có thể nằm ngửa mặt trên cỏ, ngước mắt nhìn chùm hoa lê nở trắng muốt trên cao. Tôi đã tìm đến định sống ở nhiều đô thị Bắc Nam; ở đó có thể tìm thấy mọi cái cần cho cuộc sống của tôi, chỉ thiếu một cái mà tôi không chịu nổi, là thiên nhiên.

...trước cột cờ khu Văn Lâu

Mùa hạ, trong những khu vườn Huế, khí đất xông lên hùng mạnh, cỏ mọc xanh lạ thường. Trái cây sắp chín nằm chờ trên cành, và khắp đây đó trong vùng Kim Long, khói đốt cỏ toả ra mịt mùng xanh mờ một vùng ven sông. Trên một bình phong cổ khuất trong cây lá của một khu sân vắng vẻ còn dấu chạm lỗ chỗ của một câu đối nói đến những bầy chim nhạn thường về đậu kêu om sòm trên bãi sông Hương trước mặt nhà. Tôi lớn lên không hề thấy bóng chim nhạn ven sông này. Chắc cũng giống như lũ côn trùng kia, chúng đã di trú về một vùng đất nào yên tĩnh hơn. Nhưng liệu có nơi nào gọi là "yên tĩnh hơn" trên hành tinh này. Hình như càng ngày nó càng trở nên ồn ào hơn xưa; và đó cũng là lỗi của chúng ta đã tước đoạt "quyền yên tĩnh" của thế hệ trẻ ngày mai. Mùa thu trời trở gió heo may lành lạnh làm người ta tự nhiên thấy nhớ nhung một quê hương nào không biết. Vào mùa này, các văn nhân thường mở hội leo núi, mang theo túi thơ, bầu rượu lên các đỉnh núi cao mừng tiết "Trùng Cửu". Núi đó có thể là núi Ngự Bình, núi Kim Phụng hoặc những rừng thông vùng đồi Thiên An, và văn nhân có thể là Bà Huyện Thanh Quan, Tuy Lý Vương, Hàn Mặc Tử. Những văn nhân ngồi uống rượu trên đầu núi, nghe tiếng chuông chùa thánh thót trên thành phố dầm mình trong sương khói, đi thăm núi trở về, băng qua sườn đồi, vó ngựa còn thơm nồng hương cỏ, gọi lũ bướm bay theo. Thơ Tuy Lý Vương nói: "Minh triêu sất mã sơn đầu qúa- Ngoạ thính tùng thanh ức ngã sầu" (1)

Một thứ hạnh phúc kéo dài trong nhiều năm tháng thật khó có ở đời; hạnh phúc chỉ tồn tại trong từng khoảnh khắc. Đó là khoảnh khắc mà ta nằm buông mình trên cỏ, ngửa mặt nhìn từng áng mây chẳng biết bay về đâu. Vâng, chính đó là những áng mây chẳng biết bay về đâu. Vâng, chính đó là những áng mây mà người đời Đường đã từng thấy: "Bạch vân vô tận thi" (2)

Phía đông nam thành phố, bên kia nhánh sông cùng Vân Dương, là một vùng đất bằng trầm mình trong những khu vườn tre trúc xanh biếc, tên là Vĩ Dạ. Vĩ Dạ là một khu ngoại ô của những vị hưu quan, những người làm vườn và những văn nghệ sĩ, được xem như cái nôi của tư tưởng Lão Trang phóng dật của thành phố Huế.

Thảm cỏ ở hai bờ sông Hương

Tuy gọi là kinh kỳ thơ mộng, nhưng trung tâm Huế thật sự là đất của triều đình vua Nguyễn. Của những dòng dõi danh gia thế phiệt nối đời làm quan, tư tưởng chính thống của Huế là tư tưởng Thiền với những ngôi chùa cổ kính chiếm lĩnh những đỉnh núi cao. Bốn vùng ngoại ô Huế bao gồm vùng Gia Hội, dành cho thương nhân; khu Kim Long có các phủ đệ của những vị ngoại thích; khu Nguyệt Biều dành cho những vị đường quan. Vậy chỉ còn Vĩ Dạ là nơi các văn nhân của mọi thời, những người theo tư tưởng tự do thích ở. Vĩ Dạ là vùng đất bên bờ phía đông sông Hương, là nơi người ta lập vườn theo phong cách dân dã trồng hoa cúc, thường mang lên trung tâm Huế bán để ướp trà, để chơi tết. Nói tóm lại đó là loài hoa có dính líu ít nhiều đến lối sống Lão Trang. Dọc bờ sông, lau lách mọc um tùm, thấp thoáng những mái lầu nhỏ người ta dùng để ngồi uống rượu và xướng hoạ thơ văn, với những dòng chữ ngòng ngoèo trên vách kiểu chữ Phạn, do loài ốc khi bò để lại sau mỗi cơn lụt, như trong thơ Tuy Lý Vương đã từng nói về vùng đất ở của mình. Vĩ Dạ phát xuất từ chữ "Vi Dã", mà Ưng Bình Thúc Giạ quen gọi là Nội Lách. Người bình dân lập vườn theo phong cách dân gian, những hưu quan chán cảnh cân đai, những nghệ sĩ thích đời sống phóng khoáng đều tìm về Vĩ Dạ tụ tập thành một khối dân cư thích tự do mang màu sắc cá nhân. Không nghi ngờ gì nữa chính nơi đây mà người ta có thể tìm thấy chút hương vị tiêu dao của kinh thành Huế từ gốc cỏ bay lên, trong những khu vườn xanh biếc. Vĩ Dạ tồn tại ngàn năm như một nhà ẩn dật giữa chốn kinh kỳ thời nào cũng đầy những phường danh lợi. Và như một buồng phổi hít thở đầy không khí tự do của một cơ thể có phần ưa những cách sống thảnh thơi, thú nhàn du trồng cây câu cá.

Chú thích:

1. Sáng mai ruổi ngựa lên đầu núi-nghe thông reo chợt nhớ ta buồn.

2. Bích Hồ dịch: "Phau phau mây trắng ngàn năm vẫn còn".

Hòang Phủ Ngọc Tường

Những mùa hoa gởi lại


Quy Nhơn - những ngày tháng 9, gió và nắng khẽ khàng lướt trên từng con phố nhỏ. Cái nhợt nhạt của nắng, cái se se của gió khiến hồn người nao nao giữa một chiều núi xa thoảng chút sương mờ, biển dịu êm và hiền hoà, bàng bạc in dấu mây trời. Gió vẫn thường qua đây, nắng cũng vậy, cả những mùa hoa trên phố đến và đi thật nhanh, cứ theo tiết mùa mà luân chuyển, mà đổi thay, gởi lại cho ai cả một mùa những nhớ nhung. Mong đợi...


Tôi nhớ khi bé dạo trên con đường Trần Phú vào những trưa hè, hai bên bóng phượng rợp đầy, màu hoa rực một góc phố. Bóng những tà áo dài thiếu nữ thướt tha, dịu dàng lướt qua như mộng ảo. Đâu chỉ là chiếc giỏ xe chở cả mùa hè mà giấc mơ của tuổi thơ tôi cũng hằn in lên những cánh phượng.

Hàng phượng reo vui trong nắng, thỉnh thoảng trút những chiếc lá vàng vụn bay theo gió. Có khi dưới gốc phượng lấm tấm vàng màu lá, bọn trẻ con hái những búp phượng chơi trò chọi gà, sơn móng tay... Phượng - theo cách nói của Xuân Diệu, là “hoa học trò”, và những cây phượng trên con đường Trần Phú ấy, thực sự đã bỏ lại những mùa hoa “học trò” cho thời cắp sách đến trường của biết bao người Quy Nhơn. Nghe bảo, ngày xưa, các anh chị ở trường Cường Đễ, Trưng Vương gọi tên đường này là "đường phượng bay"... Nghe cứ như đường phố này là một khuôn nhạc của ca khúc Trịnh Công Sơn không bằng. Nhưng ngẫm lại thấy cũng hay, "đường phượng bay" hay quá đi chứ, nhất là nhờ đó mà người ta có thêm chút ý thức bảo vệ cây xanh.

Tôi nhớ những ngôi nhà phủ đầy tigôn trên một con hẻm ở đường Nguyễn Thái Học. Loài hoa tim vỡ hồng đến xuyến xao, hoa như nở quanh năm, nhành quấn quýt nhành. Vậy mà có một sớm thức dậy, ngang qua nhà, không thấy hoa nở, cả ngày như thiếu điều chi. Có lần, người chủ đi vắng một thời gian dài, dây leo và hoa phủ cả lối vào, thả ngập những khung cửa. Cánh cổng của căn nhà vắng chủ hấp dẫn đến mức tôi đã dừng bước, đến và ngó vào sân trong. Chợt thấy mình như lạc vào những thế giới cổ tích, nơi nàng công chúa ngủ trong rừng đang say giấc, chờ đợi nụ hôn của chàng hoàng tử để đánh thức dậy cả một thế giới đang chìm trong những cơn mơ. Không được như thành phố ngàn hoa Dalat nhưng hoa cũng được như thế đấy.

Lang thang khắp phố Quy Nhơn, cả xưa và nay, đâu đâu ta cũng dễ bắt gặp những nụ hoa vừa chớm nở, những đoá hoa theo mùa và cả trái mùa làm đẹp cả con đường, góc phố. Phố Quy Nhơn giờ đây, ngoài phượng, tigôn, đã được điểm tô thêm những hàng bằng lăng mơ mộng, cả những cây điệp vàng, ô môi vàng nở rộ khi đến mùa...

Trong những đêm tháng 9 này, tôi nghe khắp phố phường Quy Nhơn sực nức mùi hoa sữa. Mùi hoa nồng nàn, nồng gắt vốn không nhiều người thích, số phận hẩm hiu ấy đâu phải lỗi của hoa. Những mùa phượng, bằng lăng qua đi qua, nhiều người nhớ, nhưng mùa hoa sữa qua rồi, có mấy ai hay!

Hoa đôi khi trở thành chứng nhân. Hoa đào là chứng nhân đặc trưng của Dalat. Hoa dã quỳ chứng nhân cho thời khắc giao mùa ở Tây nguyên. Những cư dân đã sống nhiều năm ở Quy Nhơn nhớ hoài cội bông giấy ở ven đường Nguyễn Huệ. Cội bông giấy già này dễ chừng đã có trăm năm tuổi. Đã có biết bao thiếu nữ chọn cội bông này làm nền cho những bức ảnh kỷ niệm, họ ôm cặp vào lòng, mắt mơ mộng và dáng mới e ấp làm sao. Những câu truyện tình trong các tiểu thuyết thường gắn với những loài hoa đẹp: lan, hồng, huệ... Và có những đôi lứa yêu nhau đã hẹn thề dưới những gốc hoàng hoa.

Với Quy Nhơn, những người dân yêu thành phố này sẽ luôn nhớ mãi những mùa hoa thật đẹp của nó, cho dù đã qua hay đang đến thật gần...

(Baobinhdinh)

Saturday, December 12, 2009

Mỳ Quảng


Nếu Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn hiến, có món phở Bắc thơm ngon; Huế, mảnh đất hữu tình, thơ mộng, có món bún bò đặc sắc thì Quảng Nam nổi danh với món mì Quảng truyền thống. 'Thương nhau múc bát chè xanh, Làm tô mì Quảng anh xơi cho cùng". Cối xay bột, lò tráng bánh là công cụ thiết yếu nhất để làm mì. Chỉ cần ít gạo ngon đem ngâm, xay thật mịn rồi tráng là có những lá mì mềm mướt, trắng nõn, trông rất... đã con mắt ! Rau thì có sẵn ở mảnh vườn: nào rau muống, búp chuối, các loại rau thơm xanh mướt ở đầu vườn hay bờ ao cá. Nước 'nhưng' có thể là gà, cua, tôm, cá... nuôi hoặc đánh bắt ở đồng ruộng sông ngòi uốn mình khắp làng quê. Và, thế là, bằng những thứ có sẵn quanh mình, người dân đất Quảng đã chế biến ra những tô mì thơm ngon, mang hương vị đậm đà nơi thôn dã. Vì thế, gọi mì Quảng là món ăn bình dân, mộc mạc cũng không ngoa chút nào.

Mì Quảng có 'tuyệt' hay không là nhờ tài nấu nướng của gia chủ. Đầu tiên, gạo dùng xay bột phải là thứ gạo ngon. Chọn được gạo rồi, người ta đem ngâm để gạo mềm, xay sẽ nhẹ tay hơn. Nhớ là khi xay, xay thật kỹ, thật mịn. Trước khi xắt, người ta xoa một lớp dầu phụng đã khử chín để mì khỏi dính. Còn nước 'nhưng', nếu là gà, lúc mổ xong, lóc thịt nạc, ướp kỹ rồi đem xào. Xương và những thứ khác chặt, bỏ vào nồi nấu cho ngọt nước. Khi nước sôi, chín, đổ thịt nạc đã xào kỹ vào nồi. Dĩ nhiên, nước 'nhưng' có thơm, ngon hay không tùy thuộc ở gia vị và kinh nghiệm của gia chủ. Rau sống không thể thiếu vắng trong tô mì. Nó đóng vai trò rất quan trọng. Rau thường là rau muống hoặc cải xắt nhỏ, trộn với búp chuối non, rau thơm, rau quế, rau răm... Đặc biệt, nếu có loại rau sống Trà Quế nổi tiếng của đất Quảng thì hương vị tô mì càng tăng thêm phần đậm đà, hấp dẫn bội phần. Muốn làm tô mì, trước hết, cho một lớp rau sống vào tô rồi phủ một lớp mì xắt sẵn lên trên, sao cho sợi mì vừa xoắn xuýt nhau vừa đều đặn. Nước nhưng chan thế nào để nước thấm vào từng sợi mì, lẫn vào lớp rau sống, bên trên chỉ còn lớp xác màu mỡ, chiếm một khoảnh tròn đỏ lượt giữa màu vàng mịn của sợi mì. Nên nhớ, chan nước nhưng mì người ta chỉ chan thiêm thiếp thôi, nhiều nước như phở hay bún bò là không đúng cách. Cuối cùng, rắc một nhúm đậu phụng rang giòn giã vừa nhỏ lên trên, gia thêm tí dầu khử chín và cho vào một ít hành tươi xắt vụn, chanh, ớt... là những phần phụ làm tăng độ béo, chua, cay... đồng thời, có tác dụng điểm thêm màu mè, khiến tô mì chưa ăn mà đã thấy ngon và hấp dẫn.

Ăn mì thiếu bánh tráng nướng giòn hình như giảm đi ý vị tô mì. Có người cứ để nguyên rồi cắn một miếng 'và' một đũa. Có người bóp nhỏ ra, trộn đều, dùng đũa xáo lên, thêm tí ớt kha khá vào, vừa ăn vừa hít hà mới khoái khẩu. Khác với ăn phở hay ăn bún bò. Ăn phở vừa có muỗng vừa có đũa, ăn từ từ, điềm đạm thể hiện phong cách thanh lịch của người thủ đô. Ăn bún bò, đặc sản xứ Huế, lại biểu lộ sự nhàn nhã, quan cách... của người dân cố đô. Còn ăn mì Quảng, có thể gọi là rất độc đáo : ăn nhanh và càng đông người ăn càng ngon miệng. Phải chăng, cách ăn mì ấy phần nào bộc lộ cá tính của người Quảng là tính 'nóng nảy' ? Ở Đà Nẵng (và Quảng Nam), mì Quảng được bày bán khắp nơi. Tại các ngã ba, ngã tư đường, các thị trấn, thị xã, hay những khu dân cư đông đúc thường có hàng quán bán mì Quảng. Nhưng, mỗi nơi có một thế mạnh riêng. Làng Thanh Chiêm ở Điện Bàn, Bàu Bàu ở Núi Thành có món mì tôm, vùng Túy Loan thuộc huyện Hòa Vang có món mì gà... Có thể nói, quán mì mở ra rất nhiều nhưng giữ được hương vị của tô mì không phải là chuyện dễ. Sự cách tân thái quá trong việc chế biến ra mì Quảng sẽ khiến nó mất đi phần nào cái tinh túy, cái đặc sắc của tô mì.

Mỳ Túy Loan

Ở đôi bờ sông Tuý, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng, dọc QL14B cũ và QL14B mới, rồi cả những đường thôn ngõ xóm, quán ăn nào cũng treo bảng bán mì Quảng. Mì Quảng quán nào cũng ngon, nhưng hơn hết là mì Bà Tỉnh ở gần cầu Giăng - 'linh hồn' của mì Quảng Tuý Loan. Tô mì ngon và điệu nghệ như vậy, nên khách đông. Người dân xa xứ về thăm quê không quên đến Tuý Loan thưởng tô mì Bà Tỉnh.



Mì Bà Tỉnh có sức hút không chỉ vì quán có truyền thống gần 100 năm, với bí quyết riêng về các công đoạn làm bánh tráng, tráng mì... mà còn ở chất lượng và giá hợp túi tiền với đủ loại khách hàng. Tô mì ngon nhờ nhưn chế biến từ thịt mông con bò vừa tơ. Nước lèo cũng hầm từ xương bò này và nêm đủ loại gia vị vừa ngọt vừa thơm. Đậu phộng (lạc) chọn mẻ không để lâu trên một mùa, rang lửa than vừa đủ độ để giữ chất bùi bùi, mằn mặn của đậu.


Rau sống dùng kèm phải chín loại, từ cây cải non đương nụ, cọng giá trắng tinh, rau muống non xanh chẻ nhỏ, lá hành chọn nơi gần củ có màu đậm, xà lách chọn lá xanh lợt… cho đến ngò ta xắt dài để ngọn, tất cả trộn đều với bắp chuối chát xắt mỏng như tơ - thấy đã thèm.


Sợi mì mỏng làm từ gạo xiệc chính gốc Đại Hiệp - Đại Lộc - Quảng Nam, ăn vừa có độ dai, vừa bùi mới ngon. Tô mì Bà Tỉnh chỉ 7.000đ cùng cái bánh tráng đặc sản vùng quê bên bờ sông Tuý. Cũng từ lò bánh tráng nhà bà Tỉnh mà ra, thơm lựng, giòn tan. Khách ở xa, sau khi ăn mì thường mua vài chục bánh tráng mang về làm quà.


Tô mì ngon và điệu nghệ như vậy, nên khách đông. Người dân xa xứ về thăm quê không quên đến Tuý Loan thưởng tô mì Bà Tỉnh. Ngày lễ tết, người dân dưới phố, bà con khắp nơi ngang qua Tuý Loan, đi viếng mộ ở nghĩa trang Gò Cà; thăm viếng người thân, bạn bè… vẫn để bụng ăn tô mì Quảng. Theo anh Nguyễn Đại Minh - truyền nhân đời thứ ba, hiện là chủ quán mì Bà Tỉnh cho biết, bình quân mỗi ngày bán 150 tô, chủ nhật lên đến 600 tô, còn những ngày tết thì trên cả ngàn là thường. 'Nhà mình một năm chỉ nghỉ bán ngày ba mươi để rước ông bà, còn lại bán suốt'.